Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2012

5 công cụ miễn phí vẽ sơ đồ mạng


Miễn phí, dễ dùng, tương thích nhiều nền tảng hệ điều hành là những điểm đáng chú ý của 5 bộ công cụ hỗ trợ thiết kế mô hình hệ thống mạng dưới đây.
1. CADE
CADE được phát triển gần như là một bộ phần mềm thiết kế CAD. Bộ công cụ hỗ trợ vẽ vector 2D này hoạt động tốt trên nền hệ điều hành Windows. Tuy không có nhiều tính năng mạnh mẽ như những phần mềm thiết kế sơ đồ mạng đắt tiền, nhưng CADE vẫn có thể đáp ứng nhu cầu thiết kế một cách dễ dàng nhất. CADE có gần như đầy đủ các chức năng cơ bản của phần mềm thiết kế sơ đồ mạng VISIO. Một khi đã cài đặt vào máy tính, bạn còn có thể tải về những sơ đồ mẫu được thiết kế sẵn khác.
CADE
2. Dia
Dia là một ứng dụng mã nguồn mở, một bộ công cụ ứng dụng thiết kế GTK+ giúp người dùng hoàn thành tốt những sơ đồ mạng cơ bản nhất. Cũng tương tự như CADE, Dia cũng có thiết kế lấy cảm hứng từ bộ thiết kế VISIO. Tuy nhiên, Dia có giao diện đơn giản và dễ sử dụng hơn nhiều. Dia hỗ trợ nạp và lưu những tài liệu định dạng XML được nén ở định dạng gzip để tiết kiệm không gian lưu trữ. Công cụ miễn phí này tương thích tốt với các nền tảng hệ điều hành như Windows, MAC và Linux.
Dia
3. Diagram Designer
Diagram Designer cũng là một công cụ vẽ sơ đồ mạng miễn phí khác có thiết kế giao diện khá giống với Dia. Tuy thiết kế giao diện của Diagram Designer trông có vẻ hơi lỗi thời, nhưng người dùng chắc chắn sẽ rất thích thú với bộ công cụ này bởi tính đơn giản, dễ sử dụng. Diagram Designer hỗ trợ các tính năng như kiểm tra lỗi chính tả, hiệu chỉnh các mẫu thiết kế sẵn có, chèn/xuất hình ảnh nhiều định dạng khác nhau (WMF, EMF, BMP, JPEG, PNG, MNG, ICO, GIF và PCX). Diagram Designer còn hỗ trợ chế độ xem slideshow, vẽ đồ thị, công cụ phân tích ảnh MeeSoft Image Analyzer và nén file ở nhiều định dạng khác nhau.
Diagram Designe
4. Gliffy
Gliffy là công cụ duy nhất hỗ trợ vẽ sơ đồ mạng hoạt động trên nền web. Công cụ này sử dụng khá đơn giản và có thể hoạt động trên mọi nền tảng hệ điều hành. Với sự hỗ trợ của thao tác kéo/thả các đối tượng từ thư viện sẵn có, người dùng có thể tự mình vẽ một sơ đồ hệ thống chỉ trong tích tắc. Gliffy là một công cụ hoàn toàn miễn phí. Tuy nhiên, nếu bỏ ra một khoản phí khoảng 100.000/tháng (4,95 USD) bạn sẽ có thêm 200MB dung lượng lưu trữ, hơn 200 mô hình thiết kế sẵn cùng nhiều tính năng mở rộng khác.
Gliffy
5. yEd
yEd là một công cụ nền tảng Java, tương thích tốt với cả Windows lẫn Linux. Công cụ này có giao diện người dùng rất trực quan và những tính năng sáng tạo trong việc “lên” mô hình một hệ thống mạng. yEd hỗ trợ nhúng các dữ liệu dạng GraphML, Excel XLS, GEDCOM, GML và XML và xuất chúng ra các định dạng PDF, SWF, GIF, BMP và HTML. Người dùng nhất định sẽ thích thú với tính năng Auto Layout của yEd bởi khả năng tự động sắp xếp các mô hình mạng bằng những thuật toán tinh vi, giúp giảm thiểu công sức và thời gian làm việc của bạn.
yEd
Nguồn: TechRepublic

Hạn chế người sử dụng tắt máy tính

Với thủ thuật nhỏ này, bạn có thể nắm toàn quyền điều khiển chiếc máy tính của mình, mà không sợ nó có thể bị ai đó vô tình tắt đi khi bạn không ngồi làm việc tại bàn.
Thủ thuật này cũng có vẻ rất thú vị với những người sử dụng máy tính tại những văn phòng nhỏ hoặc thậm chí chính tại ngôi nhà của họ - những người phải dùng chung một chiếc máy tính với nhiều người khác, nhưng muốn hạn chế hành động tắt máy tính của họ.
Có rất nhiều cách có thể giúp bạn thực hiện mục đích trên, sau đây, Finalstyle.com xin giới thiệu tới các bạn một thủ thuật nhỏ, thực hiện rất nhanh chóng. Thủ thuật này sẽ giúp bạn làm cho nút “Shutdown” bị ẩn đi trong phần thực đơn “Start” bằng việc biên tập lại một phần nhỏ trong “Registry”. Bằng cách đó, bạn có thể hạn chế những người sử dụng khác tắt máy tính qua nút Shutdown hay thậm trí là khi họ sử dụng tới tổ hợp phím Ctrl + Alt + Del.
Mời các bạn làm theo những bước sau đây để làm ẩn nút “Shutdown” từ thực đơn “Start”:
Trước tiên, bạn cần đăng nhập máy tính với quyền quản trị cao nhất, sau đó, nhấn chuột vào nút “Start” và gõ“regedit” trong hộp thoại “Run” rồi nhấn “Enter” để chuyển qua các bước kế tiếp.
Tiếp theo, nhấn chuột vào các thư mục theo đường dẫn sau: HKEY_CURRENT_USER\Software... sau đó nhấn tiếp vào
\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Policies\Explorer.
Trong phần bên phải của cửa sổ hiện tại, bạn nhấn chuột phải và tạo một giá trị hàm DWORD mới với tên làNoClose:
 và gán giá trị là “1” vào hộp giá trị dữ liệu:
Bây giờ bạn chỉ cần đóng cửa sổ chỉnh sửa “regedit” lại, và khởi động lại máy tính của mình để áp dụng những thay đổi vừa tạo ra.
Nếu bạn muốn huỷ bỏ việc ẩn nút “Shutdown” từ thanh thực đơn “Start” thì bạn chỉ cần làm theo các bước như trên, và thay giá trị trong hộp giá trị dữ liệu từ “1” thành “0” và khởi động lại máy tính của mình.
Finalstyle.com (theo CFT)

Thủ thuật giấu dữ liệu vào trong tập tin ảnh

Bài viết sau đây là một gợi ý nho nhỏ giúp bạn “giấu mặt” các tập tin mà bạn không muốn cho bất kể ai biết. Vài thao tác này sẽ giúp bạn lừa được những kẻ chuyên đi săn lùng bí mật của người khác.
Thủ thuật này giúp bạn tay không đánh lừa được người khác một cách dễ dàng. Bạn có thể lựa chọn cho mình những dạng tập tin như ảnh, phim... dùng để “bao che” cho dữ liệu của mình.
Với sơ đồ mô hình này bạn sẽ dễ hiểu hơn:

Chẳng hạn như tôi có hai tập tin trên, secret.rar và rose.jpg ở trên ổ C:. Để ẩn tập tin secret.rar bí mật này bạn phải trộn nó vào tập tin hình ảnh rose.jpg.
Các bước làm như sau:
1. Bạn mở của sổ dòng lệnh (nhấn Start > Run... > cmd sau đó nhấn OK)

2. Tiếp theo đánh cd (chuyển đến nơi chứa hai tập tin này)

3. Bạn đánh toàn bộ dòng lệnh theo kiểu sau:

copy /b rose.jpg + secret.rar secret_rose.jpg

4. Nhấn Enter, lập tức sẽ tạo ra một tập tin tên secret_rose.jpg.

Khi một ai đó mở tập tin secret_rose.jpg này ra lập tức sẽ mở rose.jpg mà bạn dùng để nguỵ trang.

Để truy xuất vào dữ liệu bên trong tập tin nén secret.rar cũ, bạn chỉ việc đơn giản đổi tên secret_rose.jpg thành secret_rose.rar, lập tức tập tin “bí mật” của bạn sẽ được mở.

(Theo thongtincongnghe)

Làm thế nào phát hiện lỗi bộ nhớ


Bạn gặp phải trục trặc hệ thống với nhiều lỗi hệ thống kì lạ và nghi ngờ liệu có phải do
những thanh nhớ RAM chất lượng kém ? Bài viết này sẽ giúp bạn lần theo dấu vết và xác
định nguồn gốc những lỗi đó.
Chiếc máy tính chạy hệ điều hành Windows của bạn gặp lỗi mà không có lý do nào cả ?
Chuyện này cũng bình thường thôi, với hàng triệu dòng lệnh cho Windows và các phần
mềm, sai sót là điều khó tránh khỏi. Thế nhưng nếu nó có lặp lại nhiều lần vào những thời
điểm lộn xộn lại là một vấn đề khác. Trong trường hợp này, có nhiều khả năng bộ nhớ của
máy tính bạn đang sử dụng có vấn đề bất ổn. Bộ nhớ lỗi sẽ khiến cho máy tính không ổn
định và gặp nhiều lỗi khó xác định. Những lỗi này đôi khi khiến cho bạn trở nên kẻ ngớ ngẩn
trước những kĩ thuật viên ở các cửa hàng vì chúng cực khó để tái hiện lại. Trong bài viết này,
chúng ta sẽ cùng đề cập tới các triệu chứng thường gặp của bộ nhớ bị lỗi cũng như tìm hiểu
một số phần mềm kiểm tra RAM sẽ giúp bạn rà soát các trục trặc có thể phát sinh.
I – Khi bộ nhớ tốt gặp trục trặc:
Một thanh RAM máy tính bao gồm nhiều chip nhớ Silicon hàn vào một bản mạch. Cấu trúc
này khiến cho bộ nhớ có tỉ lệ an toàn cao hơn nhiều so với các linh kiện khác trong PC. Tuy
nhiên nó lại là một trong những thành phần được sản xuất với số lượng nhiều và nhanh nhất.
Các chip DRAM được kiểm tra trước khi vận chuyển đi. Quy trình này sẽ loại bỏ phần lớn
các chip lỗi. Mặc dù vậy, một thanh nhớ tốt có thể chuyển thành lỗi với vô vàn khả năng
khác nhau.
Trước tiên cần đề cập tới vấn đề tĩnh điện từ những thao tác lắp ráp hoặc vận hành thiết bị sai
quy cách. Bạn nên tránh vuốt ve chó mèo khi đang lắp cặp RAM 1GB đắt tiền mới mua.
Tương tư như vậy, xung điện hoặc những bộ nguồn kém chất lượng sẽ “luộc” cặp RAM của
bạn nhanh hơn trước khi bạn kịp nhận ra. Ngoài ra, nếu bạn là dân chơi ép xung, thao tác ép
điện RAM lên quá cao cũng sẽ làm hỏng những chủng loại RAM với chip nhớ kém sức chịu
đựng.
Lý do thứ hai chính là vấn đề bụi bặm trong máy tính hoặc hơi ẩm trong không khí sẽ gây ra
chạm mạch giữa các đoạn mạch gần nhau khiến cho RAM bị hỏng. Những tác động vật lý
như rơi, dính nước, nhiệt độ cao cũng có tác động xấu.
Một lý do nữa hiếm xảy ra nhưng bạn cũng nên để ý đó là việc bo mạch chủ của bạn có các
khe RAM lỗi. Bất cứ thanh RAM nào tốt khi gắn vào các khe cắm lỗi cũng trở nên bất ổn
mặc dù chúng không phải như vậy.
Thật may mắn khi bộ nhớ máy tính hiện đại được sản xuất công nghiệp với số lượng lớn
đồng loạt nên có rất ít lỗi từ phía nhà sản xuất so với các sản phẩm linh kiện còn lại. Đại đa
số nơi bán đều cung cấp chế độ bảo hành lên tới vài năm. Thậm chí những nhà sản xuất như
Corsair, Crucial hay Kingston còn bảo hành trọn đời cho các thanh RAM của họ. Tất nhiên
người dùng phải trực tiếp gửi về tận hãng sau thời hạn bảo hành do đại lý đặt ra.
II – Dấu hiệu nhận biết bộ nhớ bị lỗi:
Có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn dấu hiệu để người dùng xác định bộ nhớ gặp trục trặc, tuy
nhiên chúng ta hãy bắt đầu với nhưng thứ thông dụng nhất:
1. MÀn hình xanh BSOD (Blue Screen of Death) trong khi bạn đang cài hệ điều hành
Windows 2000/XP. Đây là dấu hiệu rõ ràng nhất của việc bộ nhớ hoạt động bất bình thường

2. Trong khi chạy Windows 2000/XP, hệ thống thỉnh thoảng phát sinh lỗi gây sụp ngẫu
nhiên hoặc tự nhảy ra BSOD. Chi tiết này đôi khi còn là do quá tải nhiệt nên bạn cần kiểm
tra kĩ lưỡng thêm trước khi kết luận.
3. Lỗi trong khi bạn đang sử dụng những ứng dụng đòi hỏi nhiều RAM ví dụ như game 3D,
các phép thử nghiệm, dịch mã, photoshop…
4. Hình ảnh trên màn hình bị vỡ, xé… lỗi này đôi khi còn do card đồ họa, bạn nên kiểm tra
thêm.
5. Máy tính không khởi động được. Dấu hiệu này đôi khi còn đi kèm thông báo của BIOS về
lỗi bộ nhớ với những tiếp bíp dài lặp lại liên tục. Đối với trường hợp này, bạn không thể sử
dụng các ứng dụng kiểm tra mà nên yêu cầu có thiết bị chuyên dụng hoặc gửi trả RAM về
nơi mua để nhận được chế độ bảo hành thích hợp.
III – Thủ thuật kiểm tra lỗi bộ nhớ:
Trước khi tiến hành chạy bất cứ chương trình kiểm tra nào được nêu ra dưới đây, bạn nên
xác định có bao nhiêu thanh nhớ RAM đang được sử dụng trong hệ thống. Nếu bạn đã biết
con số này, bạn có thể chuyển thẳng sang bước tiếp theo. Nếu không, bạn mở nắp máy tính
rồi xác định vị trí RAM trên bo mạch chủ tương tự như trong hình bên (thường nằm ngay sát
CPU). Chú ý không đụng tới những thành phần có dán tem bảo hành. Thật chẳng thích thú
chút nào khi vừa phát hiện ra lỗi hệ thống vừa làm mât giá trị bảo hành của máy.
Các chương trình chẩn đoán bao gồm:
- Memtest86+ (www.memtest.org):
Cũng tương tự như Windows Memory Diagnostic được nêu lên ở phía dưới bài viết,
Memtest86+ có hai phiên bản một trên đĩa mềm khởi động và một trên CD. Phiên bản mới
nhất của chương trình này còn nhận diện được một số thông tin về máy tính ví dụ như số
hiệu chipset, chủng loại CPU và tốc độ bộ nhớ. Khả năng cơ bản của Memtest86+ là thực
hiện nhiều phép thử ở mức thường lẫn nâng cao với những khoảng thời gian và độ nặng biến
đổi liên tục. Điều này giúp cho bộ nhớ trải qua mọi điều kiện làm việc đa dạng tạo khả năng
cho lỗi xuất hiện dễ dàng hơn nếu chúng đang tiềm ẩn. Để sử dụng chương trình, bạn tải về
một trong hai phiên bản ảnh đĩa mềm hoặc file ISO ảnh đĩa CDROM. Đối với file ảnh đĩa
mềm, bạn chỉ việc chạy nó và cho một đĩa mềm trống vào ổ, chương trình sẽ tự động tạo đĩa
khởi động. Vời CDROM, các bước phức tạp hơn vì sau khi tải được file ảnh CD về máy, bạn
phải sử dụng một trong các chương trình ghi đĩa chuyên dụng ví dụ như Nero Burning ROM
hay Easy CD Creator để ghi ra CD trắng dưới dạng đĩa khởi động Boot-CD.
Sau khi xong, bạn khởi động lại máy tính ở chế độ boot từ CD hay đĩa mềm (xác lập trong
BIOS bằng cách nhấn phím Del khi có thông báo hiện ra trên màn hình). Memtest sẽ tự động
được kích hoạt và kiểm tra bộ nhớ. Các thông tin chi tiết về hệ thống sẽ hiển thị ở góc trái
màn hình. Bạn có thể mở menu chức năng thông qua phím C và chọn giữa các menu bằng
các con số để thiết lập chế độ kiểm tra phù hợp với nhu cầu của mình. Thông thường phép
thử số 5 và số 8 là nặng nề nhất.
- Docmem:
Docmem là một tiện ích của Simmtester và nó đã có mặt trên thị trường từ rất lâu, tuy nhiên
đa số được sử dụng trong các cửa hàng máy tính hoặc trung tâm bảo hành. Mặc dù được
phân phối miễn phí nhưng để tải Docmem về máy tính của mình, bạn phải thực hiện việc
đăng kí tài khoản trên website của hãng tại
(www.simmtester.com/PAGE /products/doc/docinfo.asp)
Tương tự như với Memtest, bạn phải cài đặt Docmem lên một đĩa mềm rồi dùng nó để khởi
động hệ thống. Chương trình sẽ tiến hành kiểm tra bộ nhớ ở hai chế độ nhanh (Quick Test)
hoặc kéo dài thử độ bền (Burn-In), chế độ này chỉ ngừng lại khi có lệnh của bạn. Bất cứ lỗi
nhớ nào được phát hiện sẽ hiện lên phía dưới màn hình.
- Windows Memory Diagnostic:

Đây là một công cụ miễn phí của Microsoft với chức năng hoạt động tương tự như Memtest.
Nó có hai phiên bản đĩa mềm và đĩa CD ROM, cách cài đặt hoàn toàn giống như Memtest.
Tính năng của Windows Memory Diagnostic có phần đơn giản hơn so với hai công cụ trên
nhưng vẫn đầy đủ những phép thử cơ bản và nâng cao. Thậm chí đôi khi nó còn có thể báo
với bạn chính xác thanh RAM nào bị lỗi (Rất tuyệt phải không nào). Sau khi kích hoạt thành
công chương trình, các phép thử sẽ lần lượt được tiến hành. Mỗi khi muốn dừng lại, bạn
nhấn phím X. Những lỗi phát sinh sẽ xuất hiện phía dưới màn hình.
IV – Những bước cơ bản khắc phục lỗi:
Một khi bạn đã xác định được rằng hệ thống của mình đang phát sinh lỗi khi kiểm tra bằng
những chương trình thử nghiệm ở trên, bước tiếp theo chính là vấn đề phải định vị được
nguồn gốc lỗi. Trong trường hợp lỗi nằm ở bộ nhớ, bạn chắc chắn sẽ phải cần tới dịch vụ bảo
hành và thay thế nên việc phải xác định đúng thanh nhớ lỗi rất quan trọng.
Nếu chỉ có một thanh RAM trong máy, mọi việc sẽ đơn giản hơn rất nhiều, bạn chỉ cần chạy
thêm một hoặc đủ ba ứng dụng đã nêu trên, nếu tất cả chúng đều báo lỗi, bạn hãy tháo RAM
và cắm sang khe khác rồi thử lại vì có thể khe cắm RAM trên bo mạch chủ bị lỗi.
Chú ý khi thay khe RAM, bạn phải tắt điện toàn hệ thống (rút dây nguồn là tốt nhất), rồi
nhấn công tắc máy vài lần để xả hết điện tích trong bộ nguồn. Sau đó nhấn hai đầu chốt giữ
RAM để bật nó ra khỏi khe cắm rồi đặt sang khe khác và nhấn nhẹ nhàng vào vị trí. Nếu làm
đúng thì hai chốt giữ sẽ tự động di chuyển vào vị trí khóa. Nếu không, bạn kiểm tra lại xem
có đặt thanh RAM vào khe ngược chiều hay không.
Khi đã hoàn thành công việc, bạn hãy bật lại máy và tiếp tục chạy các chương trình thử, nếu
lỗi vẫn xảy ra thì có vẻ như thanh RAM của bạn cần phải gửi đi bảo hành rồi đó.
Trong trường hợp hệ thống của bạn có nhiều thanh RAM khác nhau (thường thấy trên các
máy tính hiện đại do công nghệ bộ nhớ kênh đôi Dual-Channel yêu cầu tối thiểu hai thanh
RAM giống nhau). Việc thử lỗi mất nhiều thời gian hơn do bạn phải tháo toàn bộ RAM rồi
thử chi tiết trên từng thành để nhận diện linh kiện có vấn đề. Chú ý nếu tất cả các thanh
RAM đều báo lỗi, bạn sẽ cần phải kiểm tra lại cả bo mạch chủ hoặc CPU vì điều này cực kì
hiếm khi xảy ra.
Ngoài ra, nếu khi kiểm tra từng thanh bạn không gặp lỗi mà chỉ gặp lỗi khi chạy ở nhiều
thanh RAM, bạn nên xem lại các khe cắm RAM hoặc kiểm tra thông số bộ nhớ trong phần
Advance Chipset Configurations trong BIOS của máy tính nhằm đảm bảo chúng được thiết
lập đúng với chỉ số nhà sản xuất RAM yêu cầu (chi tiết thông số thiết lập nâng cao có thể
tham khảo thêm tại www.xtremevn.com ).
Dĩ nhiên, bạn có thể tìm được nhiều thiết bị kiểm tra RAM chuyên nghiệp ví dụ như một số
sản phẩm của Innoventions. Những thiết bị như vậy ngoài việc báo lỗi còn có thể chỉ rõ chi
tiết từng đoạn mạch bị in lỗi trên mỗi thanh nhớ. Tuy vậy, với mức giá hàng ngàn USD, nó
phù hợp hơn cho môi trường kinh doanh chuyên nghiệp hơn là người dùng đơn lẻ. Trong
điều kiện tài chính tương đối hạn hẹp, những bước như đã nêu có lẽ vấn là sự lựa chọn hàng
đầu để phát hiện lỗi bộ nhớ trên máy tính PC.


Đảm bảo hoạt động cho máy in Laser


Máy in laser cá nhân thường không có được sự hỗ trợ kỹ thuật, vì vậy bạn cần biết cách giải quyết một số sự
cố.
Tham vấn wizard: Wizard Windows Printing Troubleshooter chỉ tập trung giải quyết các trục trặc cơ bản, nhưng
rất đáng tham khảo. Trong WinXP, bạn chọn Start.Help and Suport, gõ list of troubleshooter vào trong hộp
Search, và nhấn <Enter>. Nhấn List of troubleshooters trong khung bên trái, chọn Printing trong cột
troubleshooter ở bên phải, và làm theo từng bước. Trong Win2000, bạn nhấn Start.Help, và chọn
Troubleshooting and Maintenance trên nhãn Contents. Chọn Win2000 troubleshooter, nhấn Print trong danh
sách các wizard troubleshouter ở khung bên phải, và làm theo các bước hướng dẫn. Để mở wizard này trong
WinMe, bạn nhấn Start.Help, gõ troubleshooter vào hộp Search, và nhấn OK. Trong Win98, bạn chọn
Start.Help.Contents.Troubleshooting.Windows 98 Troubleshooter.Print, và làm theo wizard hướng dẩn.
Kiểm tra cơ bản: Kiểm tra điện vào máy in. Cắm chặt các đầu nối cáp. Nhiều máy in có nút điều khiển
online/offline ở mặt trước và có thể bị vô tình chạm vào.
In trang thử: Hầu hết các máy in đều có thể chạy quá trình tự kiểm tra nếu bạn nhấn và giữ một hay nhiều nút
trên panel điều khiển. Nếu như trang kiểm tra tốt thì trục trặc nằm ở cáp dữ liệu, PC, hoặc phần mềm. Nếu trang
in thử không tốt, bạn tham khảo bảng “Những trục trặc phổ biến” để tìm cách giải quyết.
Dùng thứ mới nhất: Cài đặt driver và phần mềm mới nhất cho máy in. Cả hai thứ này đều có ở trang web của
hãng sản xuất. Để cài đặt driver mới trong WinXP, bạn chọn Start.Printers and Faxes và chọn Add a Printer bên
dưới Printer Tasks trên thanh Explorer trong cửa sổ Printer and Faxes. Trong Win 2000/Me/98, bạn loại bỏ
driver của máy in và cài đặt lại. Chọn Start.Settings.Printers để mở cửa sổ Printers. Nhấn phải máy in này, chọn
Delete (chọn Yes nếu được hỏi xác nhận), mở lại cửa sổ Printers nếu nó bị đóng, nhấn đúp Add Printer, và
hoàn tất việc cài đặt lại.
Chấm dứt kẹt giấy: Tháo bỏ các tờ giấy bị kẹt bằng cách kéo chúng ra theo chiều thuận như khi in. Nếu máy in
bị kẹt thường xuyên, bạn ngắt điện khỏi máy, để cho máy nguội, tháo cartridge mực ra ngoài, và kiểm tra xem
có vật gì gây cản trở bên trong không.
Kiểm tra đầu nối: Nếu máy in dùng đầu nối USB, bạn mở Device Manager và tìm dấu X màu đỏ, hoặc dấu chấm
than trong vòng tròn màu vàng nằm kề bên những liệt kê thiết bị USB. (Trong Win XP/2000/Me, bạn nhấn Start,
nhấn phải My Computer, và chọn Properties.Hardware.Device Manager. Trong Win98, bạn nhấn phải My
Computer và chọn Properties.Devices Manager). Những biểu tượng này có thể là dấu hiệu của trục trặc trong
kết nối máy in với PC. Nếu máy in ngưng hoạt động khi hệ thống ra khỏi chế độ hibernate hay chế độ chờ
(suspend), bạn nhấn đúp lên từng Root Hub bên dưới mục USB, chọn Power Management, và bỏ chọn đối với
Allow the computer to turn off this device to save power. Trường hợp đang dùng hub USB, bạn thử nối trực tiếp
máy in với cổng USB trên PC xem có giải quyết được trục trặc không.

Chẩn đoán bệnh qua tiếng bíp của BIOS


Nguồn: PCWorld.com.vn
Đã bao giờ bạn chú ý tới tiếng bíp mỗi khi khởi động máy tính? Nó chính là thông báo mã hoá chứa đựng
thông tin kết quả của quá trình kiểm tra cơ sở các thiết bị phần cứng trong máy.Quá trình kiểm tra này được
gọi là POST (Power-On-Self-Test). Nếu POST cho ra kết quả tốt, máy tính sẽ phát một tiếng bíp và mọi thứ
diễn ra suôn sẻ. Nếu các thiết bị phần cứng máy có vấn đề thì loa sẽ phát ra vài tiếng bíp.Nếu giải mã được
những tiếng bíp này thì bạn có thể tiết kiệm được nhiều thời gian trong việc chẩn đoán bệnh của máy tính.
Trên các máy tính đời mới hiện nay, mainboard được tích hợp các chip xử lý đảm nhiệm nhiều chức năng,
giảm bớt card bổ sung cắm trên bo mạch. Tuy nhiên, điều này sẽ làm giảm tính cụ thể của việc chẩn đoán.
Ví dụ, nếu chip điều khiển bàn phím bị lỗi thì giải pháp duy nhất là phải thay cả mainboard.
Bài này, chỉ đề cập tới 2 loại BIOS tương đối phổ dụng là Phoenix và AMI. Rất tiếc, Award BIOS hiện nay
có rất nhiều phiên bản và do nhà sản xuất bo mạch chủ hỗ trợ, do đó chúng bị thay đổi nhiều trước khi được
tung ra thị trường. Vì vậy, Award BIOS không được đề cập tới trong bài này.
(POST là quá trình kiểm tra nội bộ máy được tiến hành khi khởi động hoặc khởi động lại máy tính. Là một
bộ phận của BIOS, chương trình POST kiểm tra bộ vi xử lý đầu tiên, bằng cách cho nó chạy thử một vài
thao tác đơn giản. Sau đó POST đọc bộ nhớ CMOS RAM, trong đó lưu trữ thông tin về dung lượng bộ nhớ
và kiểu loại các ổ đĩa dùng trong máy của bạn. Tiếp theo, POST ghi vào rồi đọc ra một số mẫu dữ liệu khác
nhau đối với từng byte bộ nhớ (bạn có thể nhìn thấy các byte được đếm trên màn hình). Cuối cùng, POST
tiến hành thông tin với từng thiết bị; bạn sẽ nhìn thấy các đèn báo ở bàn phím và ổ đĩa nhấp nháy và máy in
được reset chẳng hạn. BIOS sẽ tiếp tục kiểm thử các phần cứng rồi xét qua ổ đĩa A đối với DOS; nếu ổ đĩa
A không tìm thấy, nó chuyển qua xem xét ổ đĩa C).
Mô tả mã lỗi chẩn đoán POST của BIOS AMI
1 tiếng bíp ngắn: Một tiếng bíp ngắn là test hệ thống đạt yêu cầu, do là khi bạn thấy mọi dòng test hiển thị
trên màn hình. Nếu bạn không thấy gì trên màn hình thì phải kiểm tra lại monitor và card video trước tiên,
xem đã cắm đúng chưa. Nếu không thì một số chip trên bo mạch chủ của bạn có vấn đề. Xem lại RAM và
khởi động lại. Nếu vẫn gặp vấn đề thì có khả năng bo mạch chủ đã bị lỗi. Bạn nên thay bo mạch.
2 tiếng bíp ngắn: Lỗi RAM. Tuy nhiên, trước tiên hãy kiểm tra card màn hình. Nếu nó hoạt động tốt thì bạn
hãy xem có thông báo lỗi trên màn hình không. Nếu không có thì bộ nhớ của bạn có lỗi chẵn lẻ (parity
error). Cắm lại RAM và khởi động lại. Nếu vẫn có lỗi thì đảo khe cắm RAM.
3 tiếng bíp ngắn: Về cơ bản thì tương tự như phần 2 tiếng bíp ngắn.
4 tiếng: Về cơ bản thì tương tự như phần 2 tiếng bíp ngắn. Tuy nhiên cũng có thể là do bộ đặt giờ của bo
mạch bị hong
5 tiếng bíp ngắn: Cắm lại RAM. Nếu không thì có thể phải thay bo mạch chủ.
6 tiếng bíp ngắn: Chip trên bo mạch chủ điều khiển bàn phím không hoạt động. Tuy nhiên trước tiên vẫn
phải cắm lại keyboard hoặc thử dùng keyboard khác. Nếu tình trạng không cải thiện thì tới lúc phải thay bo
mạch chủ khác.
7 tiếng bíp ngắn: CPU bị hỏng. Thay CPU khác.
8 tiếng bíp ngắn: Card màn hình không hoạt động. Cắm lại card. Nếu vẫn kêu bíp thì nguyên nhân là do card
hỏng hoặc chip nhớ trên card bị lỗi. Thay card màn hình.
9 tiếng bíp ngắn: BIOS của bạn bị lỗi. Thay BIOS khác.
10 tiếng bíp ngắn: Vấn đề của bạn chính là ở CMOS. Tốt nhất là thay bo mạch chủ khác.

11 tiếng bíp ngắn: Chip bộ nhớ đệm trên bo mạch chủ bị hỏng. Thay bo mạch khác.
1 bíp dài, 3 bíp ngắn: Lỗi RAM. Bạn hãy thử cắm lại RAM, nếu không thì phải thay RAM khác
1 bíp dài, 8 bíp ngắn: Không test được video. Cắm lại card màn hình.
BIOS PHOENIX
Tiếng bíp của BIOS Phoenix chi tiết hơn BIOS AMI một chút. BIOS này phát ra 3 loạt tiếng bíp một. Chẳng
hạn, 1 bíp dừng-3 bíp dừng. Mỗi loại được tách ra nhờ một khoảng dừng ngắn. Hãy lắng nghe tiếng bíp,
đếm số lần bíp.
Mô tả mã lỗi chẩn đoán POST của BIOS PHOENIX
1-1-3: Máy tính của bạn không thể đọc được thông tin cấu hình lưu trong CMOS.
1-1-4: BIOS cần phải thay.
1-2-1: Chip đồng hồ trên mainboard bị hỏng.
1-2-2: Bo mạch chủ có vấn đề.
1-2-3: Bo mạch chủ có vấn đề.
1-3-1: Bạn cần phải thay bo mạch chủ.
1-3-3: Bạn cần phải thay bo mạch chủ.
1-3-4: Bo mạch chủ có vấn đề.
1-4-1: Bo mạch chủ có vấn đề.
1-4-2: Xem lại RAM.
2-_-_: Tiếng bíp kéo dài sau 2 lần bíp có nghĩa rằng RAM của bạn có vần đề.
3-1-_: Một trong những chip gắn trên mainboard bị hỏng. Có khả năng phải thay mainboard.
3-2-4: Chip kiểm tra bàn phím bị hỏng.
3-3-4: Máy tính của bạn không tìm thấy card màn hình. Thử cắm lại card màn hình hoặc thử với card khác.
3-4-_: Card màn hình của bạn không hoạt động.
4-2-1: Một chip trên mainboard bị hỏng.
4-2-2: Trước tiên kiểm tra xem bàn phím có vấn đề gì không. Nếu không thì mainboard có vấn đề.
4-2-3: Tương tự như 4-2-2.
4-2-4: Một trong những card bổ sung cắm trên bo mạch chủ bị hỏng. Bạn thử rút từng cái ra để xác định thủ
phạm. Nếu không tìm thấy được card bị hỏng thì giải pháp cuối cùng là phải thay mainboard mới.
4-3-1: Lỗi bo mạch chủ.
4-3-2: Xem 4-3-1.
4-3-3: Xem 4-3-1.

4-3-4: Đồng hồ trên bo mạch bị hỏng. Thử vào Setup CMOS và kiểm tra ngày giờ. Nếu đồng hồ không làm
việc thì phải thay pin CMOS.
4-4-1: Có vấn đề với cổng nối tiếp. Bạn thử cắm lại cổng này vào bo mạch chủ xem có được không. Nếu
không, bạn phải tìm jumper để vô hiệu hoá cổng nối tiếp này.
4-4-2: Xem 4-4-1 nhưng lần này là cổng song song.
4-4-3: Bộ đồng xử lý số có vấn đề. Nếu vấn đề nghiêm trọng thì tốt nhất nên thay.
1-1-2: Mainboard có vấn đề.
1-1-3: Có vấn đề với RAM CMOS, kiểm tra lại pin CMOS và mainboard.


Thủ thuật cắt BAD ổ cứng


Thông thường khi ổ cứng (HDD) của bạn bị hư hỏng (xuất hiện Bad Sector) thì để bảo đảm an toàn dữ liệu,
cách tốt nhất là thay đĩa cứng mới. Tuy nhiên, giá một ổ cứng không phải rẻ, bạn đừng vội vất nó vào sọt rác
mà hãy cố gắng cứu chữa nó bằng các tiện ích chuyên dùng.
Nhận biết đĩa cứng bị bad:
1. Trong lúc đang cài đặt Windows hệ thống bị treo mà không hề xuất hiện một thông báo lỗi nào (đĩa cài
đặt Windows vẫn còn tốt), mặc dù vẫn có thể dùng Partition Magic phân vùng cho HDD một cách bình
thường.
2. không Fdisk được: khi Fdisk báo lỗi no fixed disk present (đĩa cứng hiện tại không thể phân chia) hoặc
Fdisk được nhưng rất có thể máy sẽ bị treo trong quá trình Fdisk.
3. không Format được HDD: khi tiến hành format đĩa cứng máy báo lỗi Bad Track 0 – Disk Unsable.
4. khi đang format thì máy báo Trying to recover allocation unit xxxx. Lúc này máy báo cho ta biết cluster
xxxx bị hư và nó đang cố gắng phục hồi lại cluster đó nhưng thông thường cái ta nhận được là một bad
sector!
5. đang chạy bất kì ứng dụng nào, nhận được một câu thông báo như Error reading data on dirver C:, Retry,
Abort, Ignore, fail? Hoặc A serious error occur when reading driver C:, Retry or Abort?
6. khi chạy Scandisk hay NDD (Norton Disk Doctor) hay bất kỳ phần mềm kiểm tra bề mặt đĩa (surface
scan) nào, ta sẽ gặp rất nhiều bad sector.
Cách khắc phục:
(tất cả các chương trình giới thiệu dưới đây nằm gọn trong đĩa Hiren’s Boot có bán ở các cửa hàng phần
mềm tin học phiên bản 7.7 hoặc 7.8).
o Cách 1: Dùng partition Magic cắt bỏ chỗ bad.
Thực hiện như sau:
Đầu tiên dùng chương trình NDD, khởi động từ đĩa Hiren’s Boot, ở menu của chương trình chọn mục 6.
Hard Disk Tools, chọn tiếp 6. Norton Utilities, chọn 1.Norton Disk Doctor.
Sau khi dùng NDD xác định được vị trí bị bad trên HDD, tiến hành chạy chương trình Partition Magic cắt
bỏ phần bị bad bằng cách đặt partition chứa đoạn hỏng đó thành Hide Partition.
Ví dụ: khoảng bị bad từ 6.3GB đến 6.6GB, bạn chia lại partition, chọn partition C đến 6GB, partition D bắt
đầu từ 7GB, cứ như thế bạn tiến hành loại bỏ hết hẳn phần bị bad.
Cách này sử dụng rất hiệu quả tuy nhiên nó chỉ khắc phục khi đĩa cứng của bạn có số lượng bad thấp.
Cách 2: dùng chương trình HDD Regenerator:
o Thông thường nhà sản xuất luôn để dự phòng một số sector trên mỗi track hoặc cylinder, và thực chất kích
thước thực của sector vẫn lớn hơn 512bytes rất nhiều (tùy loại hãng đĩa). Như thế nếu như số sector bị bad ít
hơn số dự phòng còn tốt thì lúc này có thể HDD Regenerator sẽ lấy những sector dự phòng còn tốt đắp qua
thay cho sector bị hư, như vậy bề mặt đĩa trở nên “sạch“ hơn và tốt trở lại. Dĩ nhiên nếu lượng sector dự
phòng ổ cứng ít hơn thì ổ cứng sẽ còn bị bad một ít. Bạn có thể quay lại cách 1.
Cách thực hiện:
Khởi động hệ thống từ đĩa Hiren’s Boot. Cửa sổ đầu tiên xuất hiện, chọn 6.Hard Disk Tools, chọn tiếp 2.
HDD Regenerator, bấm phím bất kì để xác nhận. Kế đến ở dòng Starting sector (leave 0 to scan from the
beginning) gõ vào dung lượng lớn nhất hiện có của HDD, gõ xong bấm Enter để chương trình thực hiện.
Thời gian chờ, tùy thuộc vào dung lượng đĩa và số lượng bad